Tuesday, June 23, 2015

Thơ CHÂN PHƯƠNG 18



SOLSTICE PASSION

to Kitty, as always...


sails and roses -
incarnation of a supreme passion


still a-
floating among surfs of longing
the blue guitar


while thy burning heart


in the lost and found cabinet
of two overlapping centuries



for the deadly song
keeps its wake

Friday, June 5, 2015

Thơ CHÂN PHƯƠNG 17






NỤ HÔN TRÊN CẦU PONT DES ARTS


Những kẻ yêu nhau
Mua ổ khóa gắn vào thành cầu
Chìa khóa ném xuống đáy sâu

Đôi tim đã kết với nhau rồi
Mặc kệ dòng sông cứ chảy trôi
Mặc kệ mỹ quan và tai nạn
Mặc kệ cầu kia gãy đến nơi

Ổ khóa là lời thề ẩn dụ -
Thiêng liêng như thánh lễ đời đời !

Chìa khóa vứt đi không nhặt lại -
Là linh hồn chỉ tặng một người thôi!


Wednesday, May 27, 2015

Đọc thơ LÊ TRINH



                      ĐọC THƠ  LÊ TRINH



    Ngòi bút Lê Trinh chọc thẳng vào nỗi đau thời thế cộng thêm kiếp ô nhục của bản thân và đồng bào. Chẳng hạn , trong bài Thời thuộc địa :

“Đây là thời kỳ đau buồn của một dân tộc
Danh sách bị bắt rất dài dòng, trừ ra quân trộm cướp
Đây là thời kỳ cả dân tộc được đánh đập kĩ lưỡng…
Đây là thời kỳ một phần dân tộc bị đột quỵ
được đưa đi nằm bệnh viện và chăm sóc bằng mũi súng…

  Đọc đến đây, ta bàng hoàng hiểu ra Thời thuộc địa vừa mang cả nghĩa đen nghĩa bóng, hé lộ một thi pháp cùng ý thức nghệ thuật không tránh né hiện thực tối ám của đất nước thời chuồng trại. Nhưng khác với một số văn thơ diễu cợt và đểu cáng, lắp ráp ngôn từ loạn xị theo loại thi pháp “hậu hiện đại”  đã đánh mất mọi la bàn giá trị của nhiều cây viết   hôm nay trong cũng như ngoài nước, thơ Lê Trinh là tuyên ngôn của lương tâm kèm nỗi phẫn nộ đạo lý:

“ Tôi không thể sống bằng tinh thần đồi bại của đêm này
Và không đủ sức băng qua bóng tối
Tôi kêu gọi bình minh
Nhưng chỉ nghe tiếng vọng lại của những kẻ trá hàng…

                                               (Đêm của những kẻ trá hàng )


 Bằng cách phát biểu mệnh đề trực diện pha với các hình tượng tôn giáo-chính trị và dụ ngôn như nhật ký của vua, thi sĩ của cổ tích, cha và con, đứa con trở về…,Lê Trinh đã nâng độ sâu tư tưởng cho những bài thơ không cần đa ngôn hoặc tiểu xão phù phiếm. Riêng tôi, chùm thơ được phổ biến trên mạng Da Màu khiến tôi liên tưởng đến dòng thơ nhân chứng Trung Âu, đặc biệt là thơ Ba Lan hay Hungari của Rozewicz, Pilinzky, Georgy Petri… Nếu trước đây ta từng biết đến Trần Dần, Phùng Cung, Văn Cao… điều kỳ diệu hôm nay ở Việt Nam là đôi lúc vẫn cất lên một tiếng thơ nhân chứng có trọng lượng -  chứng tỏ rằng thế hệ thi sĩ trẻ đang ươm trồng các tác phẩm nghệ thuật không phản bội sự thật lịch sử đất nước trong giai đoạn quá độ tư bản chủ nghĩa rừng rú này.   

   Hoan nghênh thi sĩ - công dân  LÊ TRINH !

                                                                                                  CHÂN  PHƯƠNG

                                                                                Cambridge, ngày 24 tháng 5 năm 2015


Thời thuộc địa


1
Không được chết ngày hôm nay 
Anh còn nợ thuế. 
Anh còn để mũi súng của ta lùa, 
Vào nhà thờ anh còn co ro, ngơ ngác.

2
Đây là thời kỳ đau buồn của một dân tộc 
Danh sách bị bắt rất dài dòng, trừ ra quân trộm cướp 
Đây là thời kỳ cả dân tộc được đánh đập kĩ lưỡng để không chường ra cảm xúc muốn bay lên 
Đây là thời kỳ một phần dân tộc bị đột quỵ 
được đưa đi nằm bệnh viện và chăm sóc bằng mũi súng, an ủi bằng răn đe, hăm dọa 
Đây là thời kỳ một phần chuyển phe sùng bái 
phải chạy bằng tiền để được vào hang ổ, bưng bê cho quân trộm cướp 
nhìn thấy hàng ngày chúng lần lượt đục khoét sạch sẽ niềm tin.
Đây là thời kỳ của một số anh hùng và những vĩ nhân. 

 

 

Chia tay ở K


Chúng tôi ôm nhau rất gọn 
Trong cánh tay mùa thu và thì thầm những lời thừa thãi 
Mà đáng ra chỉ cần một ánh mắt lặng nhìn, 
ta có thể lừa được nhau 
trong suốt quãng thời gian xa cách 
Mọi thứ đã sẵn sàng 
Để chạy tới hai chân trời mới 
Những cảm xúc cũ đã được đóng gói 
chờ dịp ném đi.



 đội quân xâm lược

1
Lũ xâm lăng đã đến nơi này
Và mê sảng
                trong dòng máu đen
                                     của chúng.
Chúng nóng lòng đốt cháy ca dao
Nhưng chúng lại khổ tâm
Không tìm lấy đâu ra lửa.
Chúng cố công chiêu dụ đầu hàng
Nhưng trái tim đã rơi xuống đất.

2
Chúng tôi vẫn đứng đấy thôi và giả bộ
Tay nắm chặt ngọn cờ
Chịu làn đạn từ hai phía,
Thời như đứa trẻ say men chiến thắng đã không còn
Cũng thật khó mà vun vén
Phải đi cùng quân trộm cướp ban đêm
Thành quách cũ mèm, khó mà trụ nổi
Đạn sắp cạn dần, cũng như người ủng hộ
Nhưng bỏ chạy về phía nào – thôi nguy hiểm quá
Nên chúng tôi vẫn đứng đấy thôi và giả bộ
Tay nắm chặt ngọn cờ.  


Bây giờ đêm gần tới


Bây giờ đêm gần tới 
Vài nhà thơ say khướt trở về khu ổ chuột 
Nằm chờ bình minh tác phẩm. 
Trung tâm tỏa sáng ánh tiền 
đặt hy vọng sức mua đêm này đừng giảm. 
Các mùa được tạo đủ tư thế 
trên đám ma-nơ-canh non choẹt. 
Thành phố già nua 
run lên bần bật tiếng còi cảnh sát 
xô vào tôi một gái điếm đang tháo chạy trên đường, 
còn kịp liếc mắt đưa tình, nàng quả là hết mình thực dụng. 
Rác rưởi khắp nơi, gió rét lùa đi từng đợt 
Nghe như tiếng khóc lẫn trong tiếng chào của một người bán dạo 
Lũ dân chơi ngổ ngáo gườm gườm, 
bước chân của tôi gõ một khúc buồn như chết. 



Đêm của những kẻ trá hàng


Tôi không thể sống bằng tinh thần đồi bại của đêm này 
Và không đủ sức băng qua bóng tối 
Tôi kêu gọi bình minh 
Nhưng chỉ nghe tiếng vọng lại của những kẻ trá hàng:
Đừng 
Một ngọn lửa từ ngôi đền này 
có thể lan ra toàn vũ trụ 
Những đám rước của chúng ta rồi hóa thành tro bụi.
Hãy để đêm 
những lưỡi dao sét gỉ thống trị những lưỡi cày 
Cưỡng đoạt đôi môi 
                              lời nói thì thầm 
và canh gác đến tận răng nụ cười, tiếng khóc.


Nhật ký của vua


Ta giành hết phần thắng lợi về mình 
Thành trì, gái đẹp trong một không gian lung linh 
như vàng thỏi, nhưng khoái trá nhất là chuyện kẻ thù quỳ gối 
Cuối cùng chúng cũng hiểu được mạng sống, 
là đứng đầu mọi giá trị.
Bây giờ để chiếm giữ lâu dài, ta sẽ thay thượng đế 
Phá sập ngôi đền chúng quen sùng bái, 
đổi luật chơi, đá bóng một mình 
Và nơi ta ngửa mặt đi qua, chúng phải quỳ gối xuống 
Tượng đài ta đứng giữa trung tâm 
Khêu gợi kỷ niệm cho ngày hội nhập.
Nhưng mộ của ta phải giữ gìn tuyệt mật 
Đề phòng lũ hai mặt đào lên.                               

 

Thi sĩ của cổ tích


Không có cái thời này thì anh đã bị xuống cấp 
được giao một việc hèn theo đúng sức của mình 
hơn là thi sĩ rền rĩ với đạo đức nửa vời nguy hại 
Bạn của tôi, bây giờ 
anh dành sân khấu diễn luôn từ A đến Z 
thứ tình yêu theo Mốt rất nặng mùi cái bãi rác 
xú uế của ngôn từ 
bóng bẩy và chìm thẳng 
như những gói mì độc hại 
được nhai đi nhai lại: 
chúng ta đủ sức tới thế giới cổ tích 
ăn quả thần miễn phí mà không cần lo nghĩ 
không ai được rời bỏ con đường này 
Tất cả phải cùng một ý chí.



Đứa con trở về


Trở về với đất mẹ xưa trầm lặng 
Đang đổi mới hàng ngày 
Với mớ bảng hiệu đeo đầy trên cổ 
Trở về với đền đài, đêm quỳ nhặt lấy 
ánh trăng, không bao giờ còn nữa 
Dòng sông thiêng vật vờ, méo mó 
đục dần dần, từ tổ quốc bị rình mò –  
Một bà mẹ với đàn con nghiện 
Sao có thể giữ gìn chút gia sản cuối cùng 
Và những đứa con đã yêu thương người da diết 
buồn bã lang thang trong di ảnh của người.



Cha và con


Cha có thể lo cho con những tháng năm thơ ấu vẹn toàn 
Nhưng không thể tính được một cánh chim vụt bay 
vào bầu trời của nó 
mọi điều cha có thể tha thứ cho con 
Trừ một điều con không thể trở thành người lương thiện 
(không đứng thẳng được vì nhiều thanh niên bây giờ 
chỉ toàn giống như xác sống) 
nhưng cha vẫn yêu con bằng tình thương sâu thẳm 
nhỏ giọt nước mắt buồn luôn luôn 
vào những đêm một mình câm lặng.


                                                                   Lê Trinh





Thursday, April 30, 2015

SÀI GÒN CHỜ CHẾT...



                                 SAIGON, QUI MEURT…

   Tháng Tư 1975! Sau Ban Mê Thuộc, Đà Nẵng, Nha Trang mất…Dân tình nhốn nháo, một số tìm cách theo Mỹ ra đi, bạo lực chiến tranh trùm phủ bầu khí Sàigòn, ngoại ô xa đã bị pháo kích…


   Một buổi trưa rời đại học Văn Khoa và đám sinh viên đang hoảng loạn, tôi phóng mô tô qua Institut – viện Văn Hóa Pháp ở Đồn Đất – tìm chút tĩnh lặng trong mấy trang sách báo, cố duy trì thói quen trầm tư với chữ nghĩa dù binh lửa cận kề. Cầm trên tay LA NOUVELLE REVUE FRANCAISE , Avril 1975 – nguyệt san từ Paris vừa gửi đến – tôi mở ra trang đầu và gặp phải bài L’année quarante của nữ thi hào Anna Akhmatova. Đây là bài thơ khóc Paris vào năm 1940 khi nước Pháp thua trận và thủ đô bị quân Đức chiếm đóng. Tại sao nhà Gallimard lại cho đăng bài thơ này khi Sài gòn đang hấp hối từng ngày ? Ban biên tập của NRF có chủ ý gì chăng? Dân Pháp làm gì không biết là Nam Việt Nam sắp mất! 



   Kỷ niệm văn học ấy khó phai trong trí nhớ, như một vết bỏng thời thế còn hoài dấu tích. Mỗi lần sang Pháp đi lùng sách báo cũ khắp các nhà sách lạ hay quen, tôi vẫn chú tâm tìm lại vài tài liệu gắn bó với đời mình – trong đó có số tạp chí tháng Tư 1975 trên đây. Và, điều không ngờ vẫn đến, tôi đã lục tìm ra tờ nguyệt san đó trong một quán sách bên sông Seine…


* * *

               Khi người ta chôn một thời đại
            Chẳng lời hát tang chế nào cất lên.
            Để trang trí cho mộ phần kia
            Chỉ thấy cúc gai với tầm ma
            Và chỉ có bọn đào huyệt hối hả
            Ra tay nhanh gọn vùi lấp nó.
            Giữa niềm im lặng sâu không đáy
            Khiến ta nghe được thời gian đi qua.
                                               

            Rồi thời đại nổi lên như thi thể
            Lênh đênh sông nước lúc xuân về.
            Nhưng đứa con chẳng còn nhìn ra mẹ
            Và thằng cháu quay lưng vì quá chán.
            Các cái đầu lại càng cúi thấp hơn
            Dưới đòn cân chậm chạp của vầng trăng .

                
            Niềm im lặng ấy trị vì
            Trên Paris đang chờ chết. 



  Có lẽ cần diễn giải đôi chút về mấy câu trên đây : không chỉ khóc thương nước Pháp, nhà thơ còn muốn gửi gấm tâm tư với dân tộc mình đang rên siết dưới chủ nghĩa Stalin tàn bạo. Người chiến sĩ của lương tâm và chứng nhân của thời toàn trị (với trường ca REQUIEM  bất hủ), Akhmatova đâu ngờ sẽ có lúc một độc giả từ phương trời xa đọc thơ bà với nỗi xúc động của kẻ vừa nghe lời sấm giảng.


  Hôm nay tôi dịch bài thơ này như một nỗi niềm riêng, đồng thời tặng các thân phận một thời từng gắn bó với Sài gòn. Đã bốn mươi năm qua, một thời đại cùng vô số nhân mạng bị chôn vùi theo số mệnh miền Nam. Và ngày 30-4-2015 này, ngoài bao nhiêu thứ đang ngắc ngoải sống mòn tại quê nhà dưới bóng chế độ âm u, còn chăng những mầm hạt đang đâm chồi cho Mùa Phục Sinh Dân Tộc ?

                                                                                      CHÂN  PHƯƠNG


Ảnh chụp một ngày mưa Sài gòn sau 30-4-1975.



Saturday, April 25, 2015

IVAN ELAGIN



ÂN   XÁ


  
  Nhân dịp những ngày tháng khó quên trở lại,tôi trang trọng gửi bản
dịch bài thơ ÂN XÁ của thi sĩ lưu vong gốc Nga Ivan Elagin đến các
Bá Di-Thúc Tề của VN hôm nay.


CHÂN  PHƯƠNG



Người bắn cha tôi
ở Kiev mùa hè năm 38
nay vẫn còn sống.


Có lẽ giờ đây ông ta đã về hưu
sống âm thầm
sau khi giã từ nghề cũ.


Và nếu ông ta đã chết
Thì gã quặp tay cha
ra sau lưng cột chặt
bằng sợi kẽm cứng
ngay trước khi xử bắn
có lẽ người này còn sống.


Và có lẽ cũng được lương hưu.


Còn nếu ông ấy đã chết
thì có thể kẻ tra vấn cha còn sống
và chắc chắn người này
được hưởng món hưu bổng bội tăng.


Có thể tên gác ngục
đưa cha ra nơi xử bắn
ngày hôm nay vẫn sống.


Bây giờ nếu tôi có ý định
tôi có thể quay về hương quán
bởi tôi được báo cho biết rằng
tất cả những người vừa kể
thực sự đã xá tội cho tôi.



Chú thích:

Ivan Elagin (1918-1987) là bút hiệu của Ivan Matveyev. Ông lưu vong khỏi nước Nga
của Stalin sau thế chiến thứ Hai và trở thành di dân trên đất Mỹ. Trong thập niên 50 
ông đi học ở hai đại học Columbia University và New York University nơi ông lấy 
tiến sĩ về văn học. Ngoài những năm giảng dạy về văn chương Nga tại University of
Pittsburg ông còn sáng tác và dịch nhiều tác phẩm thơ văn Hoa Kỳ sang Nga văn.

  Bài thơ ÂN XÁ được Bertram D. Wolfe chuyển ngữ sang tiếng Anh và in trong tuyển
tập thơ Nga Russian Poetry: The Modern Period, do John Glad và Daniel Weissbort biên
soạn, đại học Iowa ấn hành năm 1978. Bản dịch Việt ngữ dựa vào bản dịch Anh văn này.

C.P.

Wednesday, April 22, 2015

Thơ CHÂN PHƯƠNG 16



NĂM THÁNG VÀ TĨNH VẬT


xếp đặt hoa lá
diễn giải sắc hình

ngổn ngang mảnh vụn óc tim
thời gian chơi trò cắt dán

*

niềm vui mới ?
nỗi buồn xưa ?

con mắt bất động
giữa ma trận sóng

*

chữ hàng hàng

    nước mây lớp lớp

                ngang dọc các đội hình chim


    chúng nhiễu xạ ý thức


như lũ trẻ nhóc

           ném     lia      thia        đá


                                         vào trật tự của hư không




    

Thursday, April 2, 2015

Thơ CHÂN PHƯƠNG 15


XUÂN


fruehling               khi đã học xong

spring                            các thứ tiếng người

printemps                               tôi đi ra đầu ghềnh cuối bãi

primavera                                          nghe lũ âu quạ vịt biển ngỗng trời

vesna                       hò hát   

春                       Bài ca Mùa Xuân

ربيع

 बहार   bằng ngôn ngữ chim